Những buổi ngồi sau ô cửa kính mờ hơi nước, nhìn màn sương trắng đục trôi ngoài kia, lòng tôi lại nhớ quay quắt một thứ nắng khác hẳn, cái nắng vàng chói chang đổ xuống một làng quê trồng rau trên cát trắng, nơi tôi đã lớn lên, cái nơi mà bây giờ, trên bản đồ, người ta không còn gọi bằng tên cũ nữa.
Quê tôi là một làng rau, mọc lên giữa một vùng cát trắng của Bình Thuận (cũ). Ai lần đầu đi qua chắc cũng thấy lạ: cát trắng lóa cả mắt, trưa nắng nóng tới mức bước chân trần xuống là bỏng rát, vậy mà đâu đâu cũng xanh um những luống rau. Bí mật nằm ngay dưới chân người ta, len lỏi giữa các luống rau là những con mương nước ngọt trong veo, mát rượi, chảy rỉ rả suốt ngày đêm, đan vào nhau như những mạch máu nuôi sống cả làng. Cát rút nước nhanh lắm, tưới buổi sáng tới trưa đã khô cong, nên người quê tôi phải tưới rau mấy lượt một ngày, múc nước dưới mương lên, hắt xuống cát, nhìn nó thấm tụt đi trong chớp mắt rồi lại cúi xuống múc tiếp. Cả một màu xanh mướt mải ấy được giữ lại trên nền cát trắng bằng mồ hôi, từng giọt một. Hồi nhỏ tôi chẳng thấy điều đó có gì đáng nói. Mãi sau này, mỗi lần nhớ về cái màu xanh mọc lên từ cát trắng ấy, tôi mới biết mình đã lớn lên giữa một điều gần như kỳ diệu mà chẳng ai buồn gọi tên: sự sống xanh tươi cắm rễ trên một nền trắng xóa khô cằn, chỉ nhờ vào mấy dòng nước ngọt và đôi vai của những con người.
Buổi học cuối cùng của năm bao giờ cũng có một mùi rất riêng. Mùi phấn trắng, mùi mực, mùi áo trắng đẫm mồ hôi chưa kịp khô, và trên tất cả là cái mùi nắng hắt từ ngoài sân cát vào lớp, nóng đến mức tiếng quạt trần quay phành phạch cũng chỉ khuấy cái nóng đi vòng vòng chứ chẳng làm nguội được gì. Cô giáo phát học bạ. Đứa nào được gọi thì đứng dậy, lí nhí cảm ơn, ôm cuốn sổ về chỗ, lén mở ra xem điểm rồi gập lại thật nhanh. Ngoài kia, trên cây phượng già góc sân, ve đã kêu ran từ sáng.
Rồi tiếng trống tan trường cuối cùng của năm gióng lên – tùng… tùng… tùng – và cả cái lớp con nít chúng tôi vỡ òa ra như đàn chim sổ lồng, cặp quăng lên vai, dép loẹt quẹt, chạy ào ra con đường cát trắng dẫn về làng, cát nóng bỏng rát cả gan bàn chân mà chẳng đứa nào thèm để ý. Ba tháng. Ba tháng trước mặt. Đứng ở cái ngưỡng cửa ấy mà nhìn về phía tháng Chín, tôi không thấy bờ bên kia. Mùa hè khi ấy không phải là một quãng nghỉ. Nó là cả một đời người thu nhỏ.
Lạ một điều, bây giờ tôi không nhớ nổi mùa hè năm ngoái mình đã làm gì, nhưng tôi nhớ như in một buổi trưa hè của hơn ba mươi năm trước, nhớ cái nền gạch tàu mát lạnh áp vào má, nhớ tiếng con thằn lằn tặc lưỡi trên trần, nhớ mùi cát ẩm bốc lên từ luống rau mẹ vừa tưới theo cơn gió trưa tạt vào nhà. Ký ức là một thứ rất lạ. Nó bỏ quên những năm tháng ta sống vội và giữ lại đến từng hạt cát những ngày ta sống chậm.
—
Cái làng và bọn nhỏ
Làng tôi nằm trên một dải cát trắng chạy dài, nhưng nhờ có những mạch nước ngầm nước ngọt ở rìa làng dẫn nước vào những con mương, cả làng mới sống được bằng nghề trồng rau. Từ sân nhà nhìn ra là cả một tấm thảm xanh trải tới tận những đồi cát phía xa: luống cải, luống xà lách, vồng hành, vồng ngò, những giàn bầu giàn mướp leo kín, hoa bí vàng rực trong nắng sớm – màu xanh nổi bật đến nhức mắt trên nền cát trắng. Sáng nào cũng vậy, khi sương còn đọng trên lá, cả làng đã lục tục ra vồng, tiếng gàu múc nước dưới mương lóc cóc, tiếng thùng tưới hắt rào rào lên cát, tiếng người gọi nhau í ới. Cái mùi của làng tôi là mùi cát ẩm, mùi rau non, mùi phân chuồng hoai, mùi khói đốt lá buổi chiều, những cái mùi mà hồi nhỏ tôi thấy bình thường, giờ ngửi lại chỉ trong trí nhớ thôi mà đã rưng rưng.
Làng nhỏ, nhà nọ ngó sang nhà kia, chuyện nhà này cả xóm đều hay. Bà Tư bán tạp hóa đầu làng. Ông Bảy có vườn ổi vườn xoài mà cả lũ vừa thèm vừa sợ. Cô Sáu vá áo thuê, ngồi trước hiên cả ngày, cây kéo lách cách. Và một lũ con nít, đông như quân Nguyên, đứa nào tôi cũng nhớ mặt nhớ tên, nhớ cả tật cả nết.
Thằng Tí là đứa thân nhất. Nhà nó cách nhà tôi một hàng rào dâm bụt. Tí đen như cục than, tóc cháy nắng hoe vàng, gan bàn chân chai cứng đi trên đường đất nóng không biết rát, đầu gối lúc nào cũng một cái sẹo mới chồng lên cái sẹo cũ. Nó là vua của mọi trò mà người lớn cho là vô bổ: thả diều, bắt cá, đá dế, trèo cây hái trộm. Còn tôi giỏi mỗi việc đi theo nó.
Mùa hè năm ấy cả làng phát cuồng vì đá dế. Sáng sớm, khi sương còn đẫm trên cỏ, tụi tôi đã ra mấy bờ ruộng, mấy đống rơm, lật từng nắm đất, dỏng tai nghe tiếng “rít… rít…” rồi vồ lấy. Dế cơm hiền, nuôi cho vui. Dế than mới là chiến binh – con nào đầu to, càng khỏe, gáy đanh là quý. Tí có một con dế than nó đặt tên “ông Tướng”, nhốt trong hộp diêm lót lá chuối, mỗi ngày cho ăn cọng giá, nâng niu hơn vàng. Ông Tướng bất bại. Mỗi chiều cả lũ xúm quanh cái thau nhôm, thả hai con dế vào, lấy cọng cỏ gãi gãi cho chúng sung lên, rồi reo hò khi chúng lao vào nhau cắn nhau, con thua quay đầu chạy, con thắng gáy một tràng đắc thắng.
Tôi nhớ cái ngày ông Tướng thua. Một thằng làng bên đem qua con dế lạ, to gần gấp rưỡi. Vờn nhau một hồi thì ông Tướng bị quật ngã, gãy một càng, nằm thoi thóp. Tí không khóc – con trai mà, khóc là quê – nhưng mắt nó đỏ hoe. Tối đó nó chôn ông Tướng dưới gốc cây trứng cá, cắm cái que làm dấu. “Mai tao bắt con khác,” nó nói, giọng cứng lại. Nhưng tôi biết, và nó cũng biết, sẽ không có con dế nào thay được ông Tướng. Bây giờ nghĩ lại, đó có lẽ là bài học đầu đời của cả hai đứa về một điều mà mãi sau người lớn mới gọi được thành tên: có những thứ mất đi là mất hẳn, và tình thương ta dành cho một thứ bé mọn cũng có thể làm tim mình đau thật sự.
Trận chiến giấc ngủ trưa
Kẻ thù lớn nhất của tuổi thơ mùa hè không phải là cái nắng. Là giấc ngủ trưa.
Cứ tầm mười hai giờ, khi cả làng chìm vào một sự im lìm đặc quánh, khi con ve ngoài cây cũng đuối sức kêu thưa dần và con đường đất trước nhà vắng tanh dưới nắng, mẹ tôi trải chiếu xuống nền gạch tàu, kéo tôi nằm xuống, bật quạt máy quay số hai, và buông một câu lệnh không thể cãi: “Ngủ trưa. Trưa nắng vầy ra ngoài là cảm cho coi.”
Với người lớn, giấc trưa là một ân huệ. Với tôi, nó là một bản án. Tôi nằm đó, hai mắt nhắm tịt nhưng tai căng ra. Tôi nghe tiếng quạt quay rè rè, tiếng một con gà mái cục tác ngoài vườn, tiếng nước nhỏ tong tong từ cái lu, và quan trọng nhất, tôi nghe hơi thở của mẹ. Tôi học được cả một khoa học về hơi thở ấy: lúc đầu ngắn và đều, rồi chậm dần, sâu dần, đến khi nó chuyển sang cái nhịp khò khè rất nhẹ thì tôi biết – giờ là lúc.
Tôi nhổm dậy. Nhẹ như mèo. Bò ra tới cửa, nơi đã hé sẵn một khe vừa lọt một thằng nhóc. Ngoài kia, trong cái nắng trắng xóa mà người lớn sợ, thằng Tí đã ngồi chồm hổm chờ sẵn dưới bóng cây me, mặt nhăn nhó ra hiệu “lẹ lên”. Khoảnh khắc bước ra giữa trưa, nắng đập vào mặt nóng ran, tôi có cảm giác mình vừa vượt ngục thành công. Buổi trưa, khi người lớn ngủ, là khoảng thời gian thuộc về bọn con nít một cách trọn vẹn nhất, một thứ chủ quyền bí mật mà cả thế hệ chúng tôi ngầm hiểu với nhau.
Cũng có lần bại lộ. Một trưa, tôi vừa bò tới cửa thì nghe tiếng mẹ, tỉnh rụi: “Đi đâu đó con?” Hóa ra bà giả vờ ngủ để bắt quả tang. Trận đòn không nặng, nhưng câu mẹ nói thì tôi nhớ mãi: “Trưa nắng đi chơi, cảm rồi ai lo? Mẹ còn phải dậy tưới rau.” Hồi đó tôi giận. Bây giờ, mỗi trưa ngồi trong phòng máy lạnh mà vẫn thấy rã rời, tôi mới hiểu vì sao một người đàn bà dậy từ ba giờ sáng gánh rau ra chợ lại cần cái giấc trưa đến thế, và vì sao bà sợ đến vậy mỗi khi đứa con duy nhất biến mất khỏi tầm mắt.
Làm ra cả thế giới từ hai bàn tay trắng
Nhà tôi không có tiền mua đồ chơi. Mà cả làng cũng vậy. Đồ chơi trong tủ kính bà Tư phần lớn là để ngắm, để mơ. Nhưng lạ thay, chúng tôi chưa bao giờ thấy mình thiếu, bởi cả cái làng rau này là một xưởng đồ chơi khổng lồ.
Một đoạn tre già, khoét rỗng làm nòng, nhét trái cò ke vào, bóp mạnh là “bốp”, vui không tưởng. Một xấp bao thuốc lá nhặt được, xé ra xếp thành lá bài “tạt hình”. Mấy cái nắp khoén đập dẹp làm xèng. Cọng dây thun nối thành dây dài tới mấy mét để nhảy. Tàu lá chuối tước ra làm kèn, thổi tò te. Cây chuối non chặt khúc làm súng, làm ngựa. Hột me, hột mãng cầu phơi khô thành cả một kho “tiền” để chơi bán hàng.
Nhưng đỉnh cao của nghệ thuật tay trắng là con diều.
Cứ chiều, gặt xong vụ rau, mấy đám ruộng trống trải mênh mông là sân chơi của tụi tôi. Tí dạy tôi vót nan tre cho dẻo, sao cho hai cánh thật cân, lệch một chút là diều đảo, là chúi đầu cắm xuống. Dán giấy bằng cơm nguội bóp nhuyễn thay hồ. Cái đuôi mới là bí quyết: dài quá thì nặng, ngắn quá thì lộn nhào. Chiều đầu tiên con diều của tôi rơi bịch xuống ruộng, gãy nan, Tí cười ngặt nghẽo. Tôi làm lại. Hỏng. Làm lại. Đến chiều thứ ba, ra cái bãi đất trống cuối làng, tôi cầm cuộn dây, Tí cầm diều chạy ngược gió rồi buông tay, con diều giấy run rẩy, chao một cái, rồi từ từ ăn gió, bốc lên cao, cao mãi, thành một chấm nhỏ giữa nền trời chiều tím trên những cánh đồng rau. Tôi đứng đó, dây căng rần rật trong tay, nghe tim mình đập như muốn vỡ vì sung sướng: có một thứ của chính tôi đang bay trên kia.
Tôi không định ca ngợi cái nghèo – cái nghèo có nhiều khuôn mặt xấu xí mà việc thiếu đồ chơi chỉ là khuôn mặt dễ thương nhất. Nhưng có một sự thật tôi không phủ nhận được: chính vì không có gì, chúng tôi buộc phải tự làm ra tất cả. Một đứa trẻ biết tự tay làm con diều bay được là một đứa trẻ không bao giờ thấy mình bất lực trước thế giới. Tôi sợ rằng bọn nhỏ bây giờ, với cả nghìn món đồ chơi, lại thiếu mất đúng cái cảm giác ấy – cái cảm giác tôi làm được.
Con sông, cơn mưa và nỗi sợ của mẹ
Cả tuổi thơ tôi gắn với nước. Nhưng không phải nước để chơi – trước hết là nước để sống, nước cho rau.
Việc đầu tiên mỗi sáng, và là việc tôi ghét nhất hồi nhỏ, là phụ mẹ tưới rau. Trời còn nhập nhoạng, tôi đã phải xách hai cái thùng thiếc ra mương, múc nước, gánh về tưới từng luống. Cái đòn gánh nghiến vào vai một thằng nhóc, nước sóng sánh đổ ra ngoài, gánh được nửa thùng tới ruộng là may. Tưới rau là một việc không bao giờ hết: rau uống nước mỗi ngày, như người ta ăn cơm. Tôi cằn nhằn, tôi trốn, tôi tưới dối. Mãi sau này tôi mới hiểu, từng cọng rau xanh trên mâm cơm nhà mình là kết quả của hàng nghìn thùng nước gánh trên vai mẹ, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, không một lời than.
Nhưng con sông và cơn mưa thì khác. Đó là nước để chơi, và là tự do.
Buổi trưa trốn ngủ, tụi tôi ra sông. Đứa lớn dạy đứa nhỏ bơi, ôm cây chuối làm phao, lặn mò hến, hụp lặn đến khi da nhăn nheo, môi tái mới chịu lên. Có hôm cả lũ tát một vũng nước cạn bắt cá rô cá sặc, bùn lấm tới tận tai, đem về nướng rơm ăn ngon hơn mọi sơn hào hải vị. Còn cơn mưa rào mùa hè thì đến nhanh như cơn giận, tan cũng nhanh như thế. Đang nắng chang chang, trời bỗng tối sầm, rồi nước trút xuống ào ào. Với một đứa con nít, không lời mời gọi nào cưỡng nổi cảnh đó. Cởi áo, lao ra giữa sân, ngửa mặt hứng những hạt mưa to mát lạnh đập vào da thịt nóng ran, đắp đập ngăn nước thả thuyền lá, trượt trên nền sân trơn, té oành oạch mà cười như nắc nẻ. Mưa với người lớn là rau có nước trời, là đỡ một buổi gánh. Với tụi tôi, mưa chỉ đơn thuần là niềm vui, thứ niềm vui nguyên thủy không gì làm cho phức tạp được.
Và đi liền với mọi niềm vui đó luôn là một nỗi sợ tên là mẹ. Tắm mưa thì cảm lạnh, tắm sông thì hà bá rình. Trận đòn vì tội tắm sông là trận nặng nhất tôi từng ăn. Tôi đứng đó, người còn nhỏ nước, môi tái, nghe mẹ vừa quật cái roi vừa nói mà giọng run: “Tao dặn bao nhiêu lần rồi! Thằng Hùng xóm dưới chết đuối ngoài đó năm ngoái, con biết không!” Lúc ấy tôi chỉ thấy đau và tủi. Mãi sau tôi mới hiểu, cái roi ấy không phải cơn giận. Nó là nỗi sợ mất con của một người mẹ không có ngôn ngữ nào khác để diễn đạt. Bà không biết nói “mẹ sợ con chết lắm”, nên bà nói bằng cây roi. Những lằn roi đó, lạ thay, nằm trong số ký ức tôi giữ kỹ nhất, vì đằng sau mỗi lằn là một tình thương vụng về không nói nên lời.
Bà chủ tiệm và chú mèo máy
Rồi một mùa hè nọ, một chú mèo máy màu xanh từ thế kỷ hai mươi hai bước vào cuộc đời chúng tôi.
Làng tôi không có tiệm cho thuê truyện. Phải đạp xe ra tận thị trấn mới có một cái tiệm nhỏ của bà mà cả đám gọi là bà Mập. Vậy là mỗi lần đi thuê truyện là cả một cuộc viễn chinh: ba bốn đứa thay nhau đèo trên một chiếc xe đạp cọc cạch, đạp mấy cây số đường cát trắng dưới nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhại, để đổi lấy mấy cuốn Đôrêmon giấy xám mực nhòe. Năm trăm đồng đọc tại chỗ, một ngàn mang về mà phải đặt cọc, lỡ làm quăn góc là bị mắng cho tắt bếp.
Tụi tôi ngồi chen chúc trên cái ghế băng trong tiệm, lưng dính lưng, mắt dán vào trang giấy, đứa đọc xong một trang thì cả đám hối “lật đi, lật đi”. Có hôm tôi nhịn ăn sáng để dành năm trăm đồng. Bụng đói meo mà lòng no nê. Và cái sướng nhất, cái mà bây giờ tôi không bao giờ tìm lại được, là sự chờ đợi. Tập mới về, cả làng tranh nhau. Ai mượn được trước thì oai như tướng, đọc xong còn làm bộ kể nhỏ giọt cho bọn chưa đọc nghe, vừa kể vừa làm cao. Cuốn truyện phải chờ cả tuần mới tới lượt thì được đọc đi đọc lại đến thuộc từng khung tranh.
Bây giờ con tôi mở điện thoại ra là có cả nghìn tập, lướt một tối là hết, rồi quên. Tôi nhìn nó mà thầm nghĩ: thứ chúng ta đã đánh đổi để có sự đầy đủ tức thì ấy chính là cái cảm giác trân quý khi một niềm vui đến chậm và đến khó. Khi cái gì cũng có, chẳng cái gì còn quý nữa. Đó là một món hời mà tôi ngờ rằng cả nhân loại đã ký vào mà chưa kịp đọc kỹ điều khoản.
Cái ti vi và một mùa World Cup
Cả làng tôi có đúng một nhà có ti vi màu: nhà ông trưởng thôn. Điện làng khi ấy chập chờn, tối có tối không. Nhà ông trưởng thôn còn có cái máy điện tử bốn nút, cuộn băng “9999 trò trong 1”, khiến mấy đứa cháu ông thành ông hoàng của lũ con nít. Mỗi chiều, sau khi năn nỉ đủ kiểu, cả đám được vào ngồi bệt dưới đất xem mấy đứa được ưu tiên cầm tay cầm chơi Mario, chơi bắn xe tăng. Mario nhảy hụt rơi xuống vực là cả phòng “ồ” lên tiếc rẻ.
Nhưng mùa hè đáng nhớ nhất gắn với cái ti vi là mùa World Cup. Tôi nhớ những đêm cả làng kéo tới sân nhà ông trưởng thôn, người lớn con nít ngồi tràn ra cả ngoài hiên, dưới trời đầy sao, gió đồng thổi mát rượi, muỗi đốt chan chát mà không ai chịu về. Mấy chú trải chiếu, pha trà, bàn tán; mấy bà vừa coi vừa cắn hạt dưa. Tới bàn thắng là cả làng hét vang một lượt, tiếng hét vọng ra tận đồng. Có chú cá độ với nhau bằng ly cà phê, gói thuốc, đôi khi là chầu nhậu. Khi đó, tôi chẳng hiểu mấy về bóng đá, chỉ mê cái không khí ấy: cả một cái làng quây quần dưới ánh sáng xanh nhấp nháy của một cái màn hình giữa đêm, cùng buồn cùng vui vì những con người ở tận đẩu tận đâu mà chẳng ai quen.
Bây giờ nhà nào cũng ti vi to, ai cũng cái điện thoại trong tay, mỗi người một màn hình, cùng một trận đấu mà chẳng ai ngồi cạnh ai. Tôi tự hỏi không biết bọn trẻ bây giờ có bao giờ được biết cái cảm giác cả một cái làng cùng hét lên một tiếng không.
Đêm, sao trời và đom đóm
Những đêm cúp điện, lạ thay, lại là những đêm tôi nhớ nhất.
Khi điện tắt, trong nhà lập tức trở thành cái lò. Quạt đứng im. Mồ hôi rịn ra. Thế là cả nhà bê chõng tre, vác chiếu ra ngoài sân, ra cái khoảng đất trống trước nhà. Và cả xóm cùng làm y như vậy, như có một hiệu lệnh ngầm. Trong ánh đèn dầu vàng vọt, người lớn ngồi quạt mo, nói chuyện rì rầm – chuyện rau cải mùa này được giá, chuyện sâu bệnh, chuyện con cái đứa nào đậu đứa nào rớt. Mấy bà kể chuyện ma, hạ giọng thì thầm, làm tụi con nít vừa sợ vừa ghiền, túm tụm lại gần nhau hơn.
Mà trời đêm ở quê tôi hồi đó – trời ơi, sao nhiều không kể xiết. Tối đen đến mức cả dải Ngân Hà vắt ngang trời như một dòng sông bạc. Tụi tôi nằm ngửa trên chiếu, đếm sao, tìm sao Hôm, cãi nhau coi cái chấm sáng kia là sao hay là máy bay. Và đẹp nhất là đom đóm. Những đêm hè, đom đóm từ mấy bụi cây ven ao, ven mương bay ra hàng đàn, lập lòe khắp các ruộng rau, như có ai rắc cả một trời sao xuống mặt đất. Tụi tôi rượt theo, chụp vào lòng tay, thả vào cái lọ thủy tinh đục lỗ trên nắp, mấy chục con là thành một cây đèn xanh lập lòe. Tôi từng để cái lọ đom đóm bên gối định làm đèn ngủ, sáng ra thấy chúng nằm im lìm dưới đáy lọ, chết hết. Tôi buồn cả ngày. Lại một bài học nữa, về cái giá của việc muốn giữ riêng cho mình một thứ đẹp đẽ vốn thuộc về trời đất.
Cái trời đầy sao và những ruộng rau đầy đom đóm ấy bây giờ không còn nữa. Người ta thắp đèn cả ban đêm, sáng rực lên một thứ ánh sáng trắng lạnh. Quê tôi giờ làm ra nhiều rau hơn, sạch hơn, bán được giá hơn – tôi mừng cho quê mình thật lòng. Nhưng lũ trẻ bây giờ lớn lên giữa những vòm nhà kính sáng đèn, sẽ không bao giờ biết một con đom đóm là gì, sẽ không bao giờ thấy dải Ngân Hà. Và ta thì không thể nhớ tiếc một thứ mình chưa từng được thấy.
Tiếng leng keng đã tắt
Mùa hè còn có một thứ âm thanh nữa, sau tiếng ve: tiếng leng keng của xe cà rem ông Năm.
Ở quê tôi, người ta gọi cây kem là “cà rem”. Ông Năm già, lưng đã hơi còng, đạp chiếc xe đạp cọc cạch trên con đường cát, phía sau buộc cái thùng gỗ sơn xanh đỏ đã tróc. Ông không rao bằng miệng, ông lắc một cái chuông đồng – leng keng, leng keng – và chỉ cần cái âm thanh ấy vang lên đầu làng là cả lũ chúng tôi như bị thôi miên, bỏ hết mọi trò, ù té chạy về nhà xin tiền.
Cà rem ống, cà rem đậu xanh, đậu đỏ, sữa dừa. Năm trăm, một ngàn một cây. Tôi nhớ cái cảnh móc trong túi ra mấy đồng bạc lẻ nhàu nát, đếm đi đếm lại coi đủ một cây loại nào. Có hôm thiếu hai trăm, ông Năm cười khà, “thôi cho con thiếu, bữa sau trả”. Ông biết tên gần hết bọn nhỏ trong làng, đứa nào ngoan ông cho thêm tí cà rem dính ở nắp thùng. Cái sướng của cây cà rem hồi đó không nằm ở vị ngọt — nó nằm ở chỗ phải dành dụm cho nó, phải thèm nó, phải ăn thật chậm, mút từng chút một cho lâu hết, vì biết hết cây này là phải đợi tới mai, tới khi nghe lại tiếng leng keng.
Rồi một mùa hè, tiếng leng keng thưa dần. Có hôm cả ngày không nghe. Rồi tịnh hẳn. Người lớn nói ông Năm bệnh. Sau nữa thì người ta nói ông mất rồi. Hồi đó con nít vô tâm, tôi không nhớ mình có buồn nhiều không – một cái xe cà rem khác sẽ tới, đứa bán trẻ hơn, có cái loa rao bằng băng cassette nghe lảnh lót, vui tai hơn cái chuông cũ. Nhưng bây giờ, mỗi khi đâu đó vang lên một tiếng chuông leng keng, lòng tôi lại nhói lên một cái rất khẽ. Hóa ra ông Năm là người đầu tiên dạy tôi rằng có những thứ, những người, cứ tưởng mãi mãi ở đó, một ngày sẽ lặng lẽ biến mất, không kèn không trống, và ta chỉ nhận ra mình đã mất khi cố lắng tai mà không còn nghe thấy nữa.
Phía sau những mùa hè vô tư
Tới đây tôi muốn dừng lại, vì có một điều hồi nhỏ tôi chưa bao giờ thấy, và bây giờ tôi không thể không nói.
Trong khi mùa hè của tôi là thiên đường, thì mùa hè của mẹ tôi không nghỉ lấy một ngày.
Cái nắng mà tôi vui đùa dưới đó cũng là cái nắng mẹ tôi cong lưng ngoài ruộng rau từ tờ mờ sáng, lưng áo bà ba ướt đẫm rồi khô trắng mồ hôi. Ba giờ sáng mẹ đã dậy, cắt rau, bó rau, gánh đôi quang gánh nặng trĩu ra chợ cho kịp phiên, đi bộ mấy cây số đường cát trong hơi sương lúc rạng sáng. Cây cà rem mấy trăm đồng, cuốn truyện thuê, chén cơm với con cá kho giữa trưa hè – mỗi niềm vui bé mọn của tôi đều được trả bằng một phần sức lực của con người đang già đi nhanh hơn vì tôi.
Tôi nhớ một lần gần cuối hè, tôi đòi mua một bộ truyện cũ ngoài tiệm, mê lắm. Mẹ đứng lặng một lúc, rồi móc trong cái túi vải ra những đồng bạc lẻ còn vương mùi rau, đếm, đưa tôi, dặn “đọc xong giữ cho kỹ nghe con”. Phải rất lâu sau tôi mới biết, hôm đó là tiền mẹ định để mua tấm vải may cho mình cái áo mới – cái áo bà cứ hoãn hết năm này qua năm khác. Bà mặc lại cái áo bà ba bạc thếch thêm một mùa nữa, để tôi có bộ truyện.
Càng lớn tôi càng hiểu, cái mà tôi nhớ về tuổi thơ thực ra là một sự vô tư, và sự vô tư ấy là một thứ đặc quyền đắt giá. Tôi được vô tư vì có người đã âm thầm gánh hết phần lo lắng thay tôi. Một đứa trẻ hạnh phúc bao giờ cũng là dấu vết để lại của một người lớn mệt nhoài ở phía sau. Khi tôi đủ lớn để hiểu điều này, tôi không còn nhớ mùa hè theo cái cách hồn nhiên ngày trước được nữa. Trong nỗi nhớ giờ luôn có một chút áy náy, và một lòng biết ơn muộn màng mà tôi ước gì mình đã kịp nói ra khi còn có thể.
Vậy ngày xưa có thật sự đẹp hơn không?
Tôi muốn thành thật, với chính mình và với người đang đọc.
Ký ức là một kẻ nói dối tử tế. Nó giữ lại tiếng ve, tiếng diều, mùi đất sau mưa, đom đóm bên sông, gương mặt ông Năm, miếng cá ngoại gắp cho – và lặng lẽ vứt đi cái nắng cháy da, những buổi gánh nước tưới rau gãy cả vai, những trận sốt rét nằm li bì, đứa bạn chết đuối ngoài sông, những mùa rau rớt giá mẹ ngồi khóc bên đôi quang gánh, cái nghèo thật sự đè nặng lên vai người lớn. Bộ não chúng ta được lập trình để bôi vàng quá khứ, vì một quá khứ đẹp giúp ta sống tiếp dễ hơn. Cho nên khi ta nói “ngày xưa đẹp hơn”, phần lớn cái ta đang nói thật ra là “ngày xưa tôi còn nhỏ, và những người tôi thương còn ở bên tôi”.
Cái chúng ta thương nhớ, suy cho cùng, không phải là thập niên chín mươi, cũng không phải là cái nghèo. Là cái cảm giác được làm một đứa trẻ chẳng lo nghĩ gì, là cái cảm giác cả cuộc đời còn nguyên vẹn phía trước như ba tháng hè không thấy bến bờ, là những con người mà giờ có người đã không còn ngồi đó để quạt cho ta ngủ nữa. Đặt một cái máy lạnh và một cái điện thoại vào cái làng rau năm chín mươi lăm, đứa trẻ năm ấy cũng sẽ cắm mặt vào màn hình y hệt đứa trẻ bây giờ. Không phải thời đại làm nên sự trong trẻo. Tuổi thơ mới làm nên sự trong trẻo, và tuổi thơ thì thời nào cũng chỉ có một lần.
Nhưng – và tôi giữ chữ “nhưng” này thật cẩn thận – không phải mọi thứ đều chỉ là ảo giác của trí nhớ. Có những thứ đã thật sự khác, và đã thật sự mất. Bầu trời đầy sao, những ruộng rau đầy đom đóm, giờ chìm dưới ánh đèn trắng. Con sông tụi tôi tắm năm nào giờ hẹp và đục. Cái làng biết tên nhau, cùng hét lên một tiếng trong đêm World Cup, giờ mỗi nhà một cái cổng sắt khép kín. Đôi bàn tay biết tự làm con diều bay được. Khả năng ngồi yên với nỗi buồn chán đủ lâu để trí tưởng tượng kịp cất tiếng. Niềm vui đến chậm nên ngấm sâu. Những thứ này không do trí nhớ vẽ vời. Chúng có thật, và chúng đang biến mất khỏi đời sống của con cháu chúng ta một cách rất thật.
Vậy nên tôi không viết bài này để khóc một thời đã qua, cũng không để chê bai thời nay – thời nay có những điều tốt đẹp mà chúng tôi ngày ấy nằm mơ cũng không thấy, và quê tôi hôm nay no ấm hơn xưa rất nhiều, điều đó tôi mừng thật lòng. Tôi viết nó như một lời tự nhắc: rằng giữa tất cả những tiện nghi ta đã giành được và xứng đáng được hưởng, vẫn có những thứ mong manh đáng để cố giữ lại cho lũ trẻ. Một buổi chiều để con buồn chán mà không vội nhét cái máy tính bảng vào tay nó. Một lần để nó tự làm hỏng rồi tự làm lại một thứ gì đó. Một bữa cơm không màn hình. Một lần để nó dầm mưa, dù sau đó phải uống viên thuốc cảm. Một lần để nó ngước lên và thấy được một con đom đóm, một bầu trời còn sao.
***
Năm nay tôi bốn mươi. Tôi ngồi đây, ở Đà Lạt, trong cái lạnh quanh năm của một thành phố mà hồi nhỏ tôi chưa từng đặt chân tới. Con đường cát trắng ngày xưa giờ trải nhựa phẳng lì. Thằng Tí lưu lạc đi làm tận đâu, lâu lắm không liên lạc. Ông Năm chỉ còn là một tiếng chuông trong trí nhớ.
Và có một điều lạ lùng mà mỗi lần nghĩ tới tôi vẫn thấy nghẹn nghẹn: đến cả cái tên của quê tôi giờ cũng không còn nữa. Bình Thuận – hai tiếng tôi đã viết lên từng trang vở, đã nghe ông bà gọi cả đời – bây giờ đã sáp nhập vào Lâm Đồng, không còn là một cái tên riêng trên bản đồ. Trớ trêu thay, chính vì cuộc sáp nhập ấy mà tôi, một thằng con của làng rau xứ nắng, giờ lại ngồi làm công chức ở Đà Lạt sương mù, mỗi ngày cặm cụi với những con số, những hồ sơ về chính cái vùng đất đã sinh ra mình. Có những buổi đi công tác, xe đổ đèo từ Đà Lạt xuống, qua những cánh đồng rau ngút ngàn lấp lánh dưới nắng, lòng tôi cứ chộn rộn một nỗi gì khó nói, như thể tôi đang trở về một ngôi nhà cũ đã đổi chủ, đổi cả tên, chỉ còn mình tôi nhớ nó từng là gì.
Tôi không buồn vì chuyện đổi thay. Tôi hiểu đất nước phải lớn lên, đời sống phải đi tới. Nhưng có một cảm giác rất khẽ, rất riêng: như thể cái làng rau, con mương, những mùa hè của tôi giờ thuộc về một nơi chốn không còn tên gọi, chỉ còn sống trong trí nhớ của những người như tôi – những người đã từng là con nít ở cái xứ nắng cháy gió rang ấy.
Mỗi năm, cứ đến tháng Năm, trên một con dốc nào đó ở Đà Lạt mà bất chợt nghe một con ve kêu lạc lõng, tôi vẫn khựng lại một nhịp. Trong khoảnh khắc rất ngắn ấy, tôi không còn là người đàn ông bốn mươi tuổi mặc áo ấm đi làm. Tôi lại là đứa bé nằm trên nền gạch tàu mát lạnh giữa trưa hè nóng nực, giả vờ ngủ trưa, một mắt hé canh hơi thở của mẹ, và cả một mùa hè dài bất tận đang chờ tôi ngoài kia – với thằng Tí ngồi chồm hổm dưới bóng cây me, mặt nhăn nhó: “Lẹ lên mày, gió lên rồi, mình ra đồng thả diều.”
Rồi con ve im bặt. Đèn xanh. Dòng xe phía sau bấm còi. Tôi rồ ga, đi tiếp, trở lại với những hồ sơ và những con số của một người đã lớn.
Nhưng tôi vẫn nghe nó – tiếng ve ấy, tiếng diều ấy, tiếng mẹ gọi về ăn cơm chiều trên cánh đồng rau ấy – vẫn nghe suốt cả quãng đường còn lại.
Nguyễn Anh Trung






